Năm 1950, là một thời đại xa xôi và lạ lẫm.
Trong thời đại đó, rất nhiều người đã qua đời trên mảnh đất này.
Những cuộc chiến tranh đã tàn phá thế giới vừa mới lắng xuống, những quốc gia mới mẻ hiện ra nhưng lại đầy rẫy hoang tàn.
Những linh hồn đã khuất chưa kịp được siêu thoát, những người dân còn sống đang cố gắng phục hồi đất nước.
Trong thời điểm chuyển giao giữa cũ và mới, thời đại thay đổi liên tục, những chuyện kỳ lạ không ngừng xảy ra.
Mỗi khi Lễ Hạ Nguyên đến, vị thần quản lý nước sẽ xuống trần gian để kiểm tra thiện ác của con người và giúp họ thoát khỏi những thảm họa.
Vì vậy, mọi người vào thời đó rất coi trọng điều này.
Dòng sông Hồ vốn đã bị nước máu làm ô nhiễm, vào ngày đó lại tràn ngập những chiếc đèn nước làm từ giấy.
Những ngọn nến nhỏ li ti, chứa đựng nỗi nhớ của mọi người dành cho những người đã khuất và niềm mong đợi về cuộc sống tương lai, trôi theo dòng sông.
Năm đó, Chén Thưa cũng bằng tuổi những chiếc đèn nước đó, ngồi bên bờ sông, tay cầm một chiếc đèn nước, trên đó viết tên của cha mẹ mình.
Cuộc đời mỗi người sẽ gặp những ai, trải qua những gì, tất cả đều do duyên phận quyết định.
Duyên phận đã kéo hai con người chưa từng biết đến nhau đến với nhau, ảnh hưởng đến cuộc sống của nhau.
Và thế là, một đứa trẻ mồ côi ở nông thôn đã gặp một cô gái sắp chết.
Thân xác cô ấy trôi trên mặt sông trong bóng đêm, vô số chiếc đèn nưới ước nguyện tự nhiên bao quanh cô ấy, tạo thành một bông hoa.
Chúng trôi theo dòng sông như thể là linh hồn của cô gái đó.
Khi Chén Thưa thả những chiếc đèn nước của cha mẹ mình, anh ấy lập tức nhìn thấy cô ấy.
Trong thời đại đó, con người không sợ hãi trước người chết, ngược lại còn có sự thương xót.
...
Chen Shu vừa cầm lưới đánh cá trở về từ bên sông thì bà cô hàng xóm đã chặn lại anh và đưa cho anh một gói giấy.
Chen Shu có vẻ hơi ngượng ngùng, vội vàng nói:
“Bà Ma, bà luôn quan tâm đến tôi lắm, sao lại để bà…”
Bà Ma không nói gì thêm mà đưa gói giấy vào tay Chen Shu và ngắt lời anh:
“Shu ạ, mẹ cậu trước đây rất thân thiết với tôi. Sau bao nhiêu năm bà ấy đi rồi, tôi thực sự rất thương cậu.
Cậu có hoàn cảnh không tốt lắm, và tuổi tác cũng không còn trẻ nữa.
Tôi nhìn cô gái kia không phải người địa phương, trang phục của cô ấy khác hẳn chúng ta.
Có lẽ cô ấy đã trốn nạn đến đây, trên đường gặp bọn cướp, vì thế mà mất vài ngón tay và bị sốc quá mức.
Cậu hãy cố gắng cứu cô ấy đi. Nếu cô ấy vẫn còn người thân thì cũng tốt.
Nhưng nếu cô ấy thực sự không nơi nào để đi, cậu hãy suy nghĩ kỹ xem có thể giữ cô ấy làm con dâu được không.
Về chuyện cưới xin, cả làng chúng tôi sẽ giúp đỡ cậu.”
Nghe lời bà Ma, Chen Shu tràn ngập suy nghĩ và không biết nên nói gì.
……
Đây đã là đêm thứ tư rồi.
Chen Shu không dám nhìn thấy cô ấy trong tình trạng hôn mê nữa, sau lời bà Ma, anh cảm thấy lòng mình hỗn loạn.
Trên tủ trong nhà, có một bộ quần áo màu xanh đậm được xếp gọn gàng.
Trên đó có những đường nét màu sắc rực rỡ, trông giống như những con bướm đậu trên quần áo vậy.
Trên quần áo còn có hai chuỗi khuyên tai màu bạc.
Vì thế, mọi người trong làng đều gọi cô ấy là “Cô gái màu sắc”.
Người ta thời đó ăn mặc rất giản dị, những người có thể mặc loại quần áo này chắc chắn không phải là người bình thường.
Lúc này, Chen Shu bỗng nhiên nảy ra một ý nghĩ kỳ lạ.
Nếu cô gái màu sắc có thể tiếp tục ngủ mãi thì tốt biết mấy, như vậy anh có thể luôn nhìn cô ấy.
Nghĩ như vậy, anh nhận ra sự ích kỷ trong suy nghĩ của mình và vung tay đánh vào mặt mình hai cái.
Trong tâm trạng phức tạp, Chen Shu lao ra khỏi nhà, và dưới thời tiết cuối thu, anh lao ngay vào thùng nước lạnh.
Một lúc sau, khi đã bình tĩnh trở lại, Chen Shu từ từ quay trở vào nhà.
Vừa bước vào, anh phát hiện ngọn nến trên bàn đã tắt từ lúc nào không rõ.
Bóng tối khiến anh hơi khó chịu, vì vậy anh lấy hộp diêm ra và thắp lại ngọn nến.
Và đúng lúc đó, anh nhìn thấy cô ấy…
Và thế là anh ta lao ra từ căn phòng bên trong, và anh ta đã nhìn thấy một người phụ nữ.
Người phụ nữ ấy cầm trong tay ngọn nến, ánh sáng làm cho bóng dáng cô ấy trở nên hơi ảo ảnh.
Cô ấy mặc trang phục rực rỡ đầy màu sắc, trên tai phải cô ấy đeo hai chuỗi những chiếc vòng bạc lấp lánh, giống như những vì sao trên bầu trời được cô ấy đeo bên tai.
Chỉ có điều, trên tay trái cầm chân nến, thiếu đi hai ngón tay.
Trên khuôn mặt cô ấy không hề có biểu cảm nào, nhưng đôi môi cong vút tự nhiên khiến dù cô ấy không hề có cảm xúc gì đi nữa cũng giống như đang mỉm cười nhẹ nhàng.
Anh ta nhìn cô ấy như vậy, quên mất ngôn ngữ, quên mất thế giới, quên mất chính mình.
Cô ấy, thực sự rất xinh đẹp.
……
“Các bạn có biết không? Cô gái xinh đẹp nhà Trần Thư đã tỉnh rồi!”
“Thật sao? Đó quả là một tin tốt lành, chắc chắn cậu bé Trần Thư sẽ vui mừng lắm đây.”
“Nói đến đây, cô gái xinh đẹp ấy cũng thật đáng thương.
Bị bọn cướp bóc thương người, chắc hẳn cô ấy đã phải trải qua nhiều tổn thương tâm lý.
Cô ấy đã tỉnh được vài ngày rồi, ban ngày chỉ ngồi trước cửa nhà Trần Thư nhìn bầu trời một cách mơ màng, không nói được một lời nào.”
“Dù cô ấy có bị tàn tật hay trở thành người câm, chắc chắn cô ấy vẫn là một đứa trẻ tốt bụng.
Nếu Trần Thư đồng ý, chúng ta nên nhắc đến chuyện này một cách nghiêm túc.”
Sau mùa thu, trong làng không có nhiều việc gì xảy ra, nhiều người coi chuyện của Trần Thư và cô gái xinh đẹp như là một chuyện quan trọng.
Rất nhiều người tốt bụng còn cố tình nằm sấp trên tường sân nhà Trần Thư để nhìn thấy cô gái xinh đẹp bí ẩn ấy.
Ở thời điểm đó, trong làng quê, những người phụ nữ như cô gái xinh đẹp này, những người dân bản địa coi họ như những nàng tiên bước ra từ tranh vẽ.
“Có một người chú làm việc ở thành phố nói với tôi, trang phục của cô ấy giống như của các dân tộc thiểu số ở Miêu Giang.”
Miêu Giang là nơi nào vậy? Có xa không?
Tôi thích câu chuyện này.