“Thành phố nhỏ đó tên là Vô Hạ… Có người đang ở đó,” cô nói bằng giọng dịu dàng. “Anh ấy vẫn chưa thoát hiểm; tôi không dám chết. Hãy nói cho tôi biết, bây giờ thành phố đó có yên bình không?”
“Yên… rất yên bình…” Nó vừa lắp bắp nói ra từ đó thì ánh sáng Phật quang rực rỡ đã bùng phát từ trong thành phố. Trên mái ngói xanh, mây đen tụ lại; những cánh hoa rơi xuống từ giữa mây, và tiếng nhạc Phạn vang lên, tạo nên cảnh tượng hòa bình và vui mừng vô cùng. Nhưng hiện tượng kỳ lạ này chỉ kéo dài vài khoảnh khắc; sau đó, ánh sáng Phật quang liền biến mất, tập trung lại thành một ngọn tháp Phật, đứng trên những mái ngói xanh. Từ xa, Bát Trọng Yên chỉ có thể nhìn thấy vô số điểm đen nhỏ đang bỏ chạy khỏi bên cạnh ngọn tháp, bay về phía họ ở Sông Dương Quan. Đầu đoàn là một con quạ linh thiêng màu đen thui, la hét dữ dội: “Ngọn tháp Phật đã được xây dựng xong… Chúng ta không thể quay trở lại nữa!”
“Vua Hắc Kỳ đã thua rồi… Chúng ta không thể trở về được nữa!”
Bát Trọng Yên chỉ nghe thấy tiếng hỗn loạn phía sau lưng mình; tiếp theo là tiếng ngựa hí dữ dội và tiếng la hét của binh lính… Chắc hẳn họ đang giẫm đạp lên nhau, không biết có bao nhiêu người đã chết hay bị thương. Nhưng cô chỉ nhìn về phía Tướng Đào Thái bên cạnh mình… Một hàng nước mắt từ từ rơi xuống khuôn mặt cô, làm phai nhạt đi vết máu trên nửa khuôn mặt đó. Cô vật vã đứng dậy, kéo theo những chuỗi sắt trên người, đặt hai tay chắp lại và cúi đầu thờ phượng ngọn tháp Phật ba lần một cách thành kính.
Sau lần cuối cúi đầu, cô không đứng dậy ngay; cô vẫn để đầu chạm vào mặt đất, vai cô run rẩy như đang nức nở. Khi cô cuối cùng ngẩng đầu lên, đôi mắt cô lấp lánh như ngọn lửa đang cháy. Những sợi xích trói buộc cô, từng sợi một, đều bị gãy vụn…
Các ngươi… tất cả các ngươi, đều sẽ chết…
Bóng tối ập đến, nuốt chửng cả mặt trời và mặt trăng…
**Một…**
Chiếc cờ rượu kia, thực ra chỉ là một tấm vải xanh đã phai màu, được treo lên bằng một cây tre dài. Gã thanh niên dừng bước lại, vỗ vã bụi bặm trên mép chiếc cờ màu xanh lá: “Thừa nhận đi… Rõ ràng là em đã lạc đường rồi. Đây là lần thứ ba chúng ta đi vòng qua cùng một chiếc cờ rượu này!” Anh nói với giọng thấp, không khỏi bất lực. Bên cạnh anh là một cô bé mới chỉ khoảng mười ba, mười bốn tuổi, đầu được buộc thành hai búi, và khi nói chuyện, hàm răng nanh của cô bé lộ ra rõ ràng.
“Không… không phải đâu!” Cô bé n
Chưa kịp nói hết, cô gái với búi tóc hai bên đã nắm lấy cổ tay anh một cách mạnh mẽ đến nỗi khiến các khớp xương của anh đau nhức. Cô đứng dậy, nghiêng người sát tai anh và thì thầm: “Thường Xanh, anh có để ý không? Dù đây là lần thứ ba chúng ta gặp bà lão kia, nhưng sao suốt thời gian này, những viên tangyuan trong bát của bà ấy lại luôn nguyên vẹn, không hề có viên nào bị cắn vào?” Anh giật mình, cũng bắt chước cô quan sát những người xung quanh. Đây là một con phố lát đá xanh, giống như tất cả những con phố họ đã đi qua trước đó – sạch sẽ không một hạt bụi, không thấy dấu chân hay rác thải nào. Lúc này, ngoài họ ra, trên phố còn có bốn người: một ông già làm nghề thổi kẹo, hai đứa trẻ đội răng nanh đang đứng trước quán của ông ấy, và bà lão mặc áo vải xanh lam, với búi tóc trắng tinh, đang ăn những viên tangyuan trong bát của mình. Nhưng… Khi nhìn kỹ hơn, anh nhận ra rằng cái muôi trong tay bà lão chỉ liên tục múc không khí vào bát, còn ông già thổi kẹo cũng chỉ liên tục nâng lên rồi đặt xuống chiếc kẹo trong tay mình. Thường Xanh cảm thấy lưng mình lạnh ran. “Nếu vậy, còn tìm cửa vào làm gì nữa!” Cô gái kéo anh đi về phía quán rượu rách nát có lá cờ rượu treo trên cửa, rồi đá mở cửa bước vào. Bên trong quán tối om, tiếng nói chuyện và tiếng cược bạc vốn ồn ào bỗng nhiên im lặng. Trên bàn chất đầy đậu phộng và đậu que, nhưng tất cả chúng vẫn nguyên vẹn, chưa ai mở vỏ chúng cả. Những người uống rượu đều nhìn về phía họ, chỉ có người bán rượu đứng sau quầy, lưng quay đi, vẫn đang cố gắng lau chùi cái gì đó, vai anh ta rung lên rung xuống. Cô gái bước thẳng đến quầy, ném gói hàng của mình lên mặt quầy; vài cái lọ từ bên trong rơi ra, khiến cô phải nhanh tay giữ chúng lại. “Lâu rồi không gặp nhau, Bát Trọng.” Cô gái vui vẻ gọi. Người bán rượu từ từ quay đầu lại. Anh ta đội khăn trên đầu, mặc bộ đồ lao động thông thường, má tròn trịa, trán nhô ra phía trước, và ở chính giữa trán chỉ có một con mắt to tròn. Cô gái lần lượt đặt các cái lọ từ gói hàng lên quầy: “Giấm Trùng Khánh của Sơn Tây, gừng non của Hồ Bắc, lá tía tô của Bình Giang… Bây giờ, tôi đã chuẩn bị đủ tất cả rồi.” Cô đặt hai tay lên má, khuỷu tay chống vào quầy, hàm răng trắng bóng lấp lánh. “Hãy đi báo cho chủ nhân của cô ta biết đi… Tôi, Chu Thành Bích, lại đến đây để ‘ăn’ ông ta rồi đấy.”
Nhưng bây giờ, khi anh ta đang gánh Chu Thành Bích chạy qua những con hẻm phức tạp như mê cung, và có một nhóm người giống như zombie đang theo sát phía sau, anh ta mới nhận ra rằng những suy nghĩ trước đây của mình thật là naif biết bao.
Chỉ năm ngày trước thôi, họ vẫn còn ở thành phố Vô Hạ, cách đó hơn một trăm dặm. Theo thông lệ, vào mùa thu, những tấm rèm màu trắng bạc đã được treo lên trên các cửa sổ tầng hai của Thiên Hương Lâu từ rất sớm. Hầu hết mọi người ở Vô Hạ đều nghĩ rằng Trọng Chủ Nhân đã đi tìm những nguyên liệu mới lạ để nấu ăn. Chỉ có Thường Xanh và hai cô hầu gái thân cận mới biết rằng bà ấy không hề đi đâu cả; bà ấy chỉ đang nằm liệt trên chiếc ghế bằng tre Xiangfei, đối diện với Liên Tâm Tháp, và đang ngủ say.
Dù là vài chục ngày hay một hoặc hai tháng, rồi bà ấy cũng sẽ tỉnh dậy và đi tìm ngọn tháp Phật đó. Ngọn tháp ấy ở đâu chứ? Nó chính là ngay trước mắt bà ấy, bên ngoài tấm rèm, yên bình đứng giữa làn tuyết mịn đầu tiên của năm này.
Khi mới đến Thiên Hương Lâu, Thường Xanh đã rất ngạc nhiên trước cách sống “không ăn không uống” của bà ấy, nhưng sau đó anh ta cũng dần quen với điều đó. Vì bà ấy sẽ không thể tỉnh dậy trong thời gian ngắn, nên anh ta cũng thấy thoải mái khi được yên tĩnh. Anh ta bảo hai cô hầu gái Cherry và Cui Yan dọn dẹp, phơi ga trải giường, còn bản thân thì mang theo bút mực giấy đá để vẽ hình ảnh bà ấy đang ngủ.