Sau khi dâng lễ vật cho thần núi, Qí Vũ vội vàng tụ tập cùng mọi người lại với nhau.
Cả người ướt đẫm nước, họ run rẩy vì cơn gió lạnh.
“Nếu cứ thế này thì sẽ bị bệnh mất.”
Người thợ săn già đi đến góc, lấy ra một nắm củi và cười nói: “Chúng tôi, những người thợ săn, đôi khi cũng trú ẩn ở đây để tránh mưa, vì vậy chúng tôi đã chuẩn bị sẵn củi từ trước để sử dụng vào ngày hôm nay.”
Qí Vũ rất vui mừng: “Vậy thì xin cảm ơn rất nhiều.”
Người thợ săn già không quan tâm lắm: “Không sao đâu, sống trong rừng lớn này thì phải giúp đỡ lẫn nhau mà. Ngày mai khi mưa tạnh, chúng ta sẽ đi thu thập thêm củi và đặt trở lại đây.”
Mọi người nhanh chóng xếp củi lên đống lửa đã được đốt sẵn. Qí Vũ lấy ra một tấm bùa lửa, châm vào cành cây, thổi nhẹ vài cái, và củi dần dần bắt lửa.
Nhìn ngọn lửa dần leo lên, cảm nhận hơi ấm từ nó, có người thở phào nhẹ nhõm.
“Cuối cùng cũng sống sót rồi.”
“Anh Qí, anh muốn ăn bánh gạo vàng hay bánh gạo trắng?”
“Thì cả hai loại mỗi cái một nhé?”
Một người trong nhóm phân phát thức ăn khô cho mọi người, sau đó họ đặt chúng gần lửa để nướng.
Khi thức ăn đã thơm phức, A Duệ lấy ra một hũ dưa muối, bảo mọi người phết lên trên bánh, cắn một miếng và cảm nhận vị mặn ngon.
“Tay nghề làm dưa muối của A Duệ thật tuyệt vời. Theo tôi thì, A Duệ nên mở một cửa hàng dưa muối thì hơn, sao phải đi theo chúng tôi buôn bán nhỉ?”
A Duệ cười nhẹ, không nói gì thêm.
Nhớ lại sự việc vừa rồi, Qí Vũ hỏi: “Lão Tôn, tại sao lúc nãy anh lại hỏi A Duệ có bị ai đẩy xuống dưới không?”
Qí Vũ và những người khác là lần đầu tiên vào rừng này; họ muốn vượt qua dãy núi để đến huyện Thanh Hoài bán hàng. Sau nhiều lần tìm kiếm, cuối cùng họ cũng tìm được một người thợ săn già địa phương để dẫn đường.
Người thợ săn già nói với vẻ nghiêm túc: “Các bạn có nghe nói về loài quỷ “zhāng guǐ” chưa?”
Qí Vũ và mọi người đều trở nên nghiêm túc; họ đã đi khắp nơi và tự nhiên biết đến một số chuyện về quỷ dữ. Một người trong nhóm hỏi lớn: “Ý anh là loại quỷ “zhāng guǐ” giúp đỡ hổ ăn thịt người ư?”
Người thợ săn già gật đầu và nói nhỏ: “Ngọn núi này tên là Núi Tùng. Khoảng mười năm trước, có một người thợ săn vào rừng săn bắn, sau đó biến mất không dấu vết gì cả. Ngay lúc đó, mọi người đã bàn tán rằng có con hổ quỷ xuất hiện trong núi và ăn thịt người thợ săn đó.”
“Ban đầu mọi người không tin, nghĩ rằng đó chỉ là trò đùa hoặc tai nạn. Nhưng sau đó, nhiều người khác cũng mất tích một cách bí ẩn…”
Khi đến huyện Yên Giang, các quan lại lại nói rằng núi Tùng Sơn thuộc về huyện Thanh Hoa, vì vậy nó nên được quản lý bởi huyện Thanh Hoa. Sau vài cuộc tranh cãi, cả hai bên mỗi bên đều cử ra hai tu sĩ để tìm dấu vết của yêu hổ trên núi Tùng Sơn; họ tìm kiếm suốt mười ngày liền nhưng không thấy chút lông hổ nào cả. Hai tu sĩ đó cảm thấy chúng tôi đang lừa dối họ, làm lãng phí quá nhiều thời gian vô ích. Chúng tôi giải thích rằng có lẽ yêu hổ cố tình trốn tránh họ, không dám xuất hiện, nhưng hai tu sĩ đó không chịu nghe lời giải thích của chúng tôi và bỏ đi mà không nói lời nào thêm.
Chúng tôi lại tìm đến chính quyền, nhưng họ không còn quan tâm đến chúng tôi nữa. Chúng tôi không còn cách nào khác, đa số mọi người đều rời bỏ núi Tùng Sơn để tìm con đường sống khác; chỉ còn lại vài người già như chúng tôi thôi. Ngoài việc săn bắn ra, chúng tôi không biết làm gì khác, nên quyết định ở lại đây.
Sau đó, chúng tôi phát hiện ra rằng khi đi săn bắn, chúng tôi thường gặp những lữ khách mất tích. Những lữ khách này xuất hiện rồi biến mất một cách bất ngờ, đôi khi họ còn đẩy chúng tôi.
Đôi khi khi tôi dẫn người vào núi, những lữ khách đó giả vờ tình cờ gặp chúng tôi và đề nghị đi cùng đường. Tôi làm sao dám đồng ý được, vội vàng dẫn mọi người rời đi ngay.
Thế hệ người già trước đây từng kể rằng trên đời này có loài quỷ gọi là “chương quỷ”. Khi yêu hổ giết người, người đó sẽ hóa thành chương quỷ và giúp yêu hổ tìm con mồi, lừa dụ con mồi đến một nơi nào đó rồi biến họ thành những chương quỷ mới.
Tuy nhiên, việc đối phó với chương quỷ cũng khá đơn giản; chỉ cần từ chối yêu cầu của chúng, chúng sẽ không làm gì được bạn cả.
Khi ấy, Kỳ Vũ bỗng hiểu ra. Trước đây anh ta còn thắc mắc tại sao trên một khu rừng rộng lớn như vậy lại chỉ có rất ít người săn bắn; tại sao phải tìm kiếm mãi mới gặp được vài gia đình thợ săn, và hơn nữa những gia đình này còn ở chung với nhau nữa. Hóa ra là do sự áp bức của yêu hổ.
Thấy A Duyệt vẫn do dự, Kỳ Vũ liền hỏi: “A Duyệt, nếu có điều gì muốn hỏi thì cứ hỏi đi.”
Ban đầu A Duyệt còn ngại không dám hỏi, nhưng vì bậc trên đã nói như vậy, anh ta cũng không giấu giếm nữa.
“A Duyệt chỉ có một câu hỏi thôi: liệu chương quỷ có phụ nữ không? Họ có xinh đẹp không? Có dùng vẻ đẹp để quyến rũ đàn ông không? Có hút đi khí dương của đàn ông không? Liệu tôi có thể bắt đầu một mối tình cấm kỵ với họ, cùng nhau trốn tránh sự truy đuổi của yêu hổ không?”
Kỳ Vũ không trả lời, chỉ im lặng.
“Có vẻ như tôi đã từng nghe cái tên này rồi,” lão thợ săn nói một cách không chắc chắn, không nhớ là nghe ở đâu, có thể là trong quán trà dưới núi, có thể là từ những lữ khách vào núi, hoặc có thể là khi còn trẻ. Ông không thể nhớ rõ nữa.
Thực tế, người dân thường biết rất ít về những người tu luyện; họ chỉ nghe về những câu chuyện kỳ lạ và hấp dẫn đó mà thôi.
Chưa kể đến việc những câu chuyện được truyền tụng từ miệng này sang miệng khác rất dễ bị biến đổi. Khi chúng đến tai người dân thường, thì thường khác xa so với sự thật, và không thể tin được.
Chẳng hạn, Tề Vũ từng nghe nói rằng tại sao môn phái Đạo Đức lại được gọi là Đạo Đức; điều đó có nghĩa là con đường tu luyện rất mơ hồ, cần phải tìm kiếm con đường đúng đắn từ trời cao. Việc tu luyện chính là tu tâm, cần phải liên tục tự hỏi mình đang theo đuổi con đường nào – con đường chính đạo hay con đường ma quỷ – và không được mất đi bản chất ban đầu của mình.
Có một lần, Tề Vũ gặp một đệ tử của môn phái Đạo Đức, tên là Đài Bất Phàm. Ông hỏi tại sao môn phái này lại được gọi như vậy, và Đài Bất Phàm đã trả lời điều đó một cách rất rõ ràng mà Tề Vũ vẫn nhớ đến tận bây giờ.
“Cậu hỏi vấn đề này à? Thì tôi phải kể về vị tổ sư sáng lập môn phái chúng tôi. Vị tổ sư ấy, tên là Tiên Đạo Nhân, đã chi rất nhiều tiền để nhờ người của môn phái Thiên Sách giúp xác định vị trí. Cuối cùng, ông ấy tìm được một nơi hội tụ tất cả các yếu tố phong thủy tốt đẹp từ khắp nơi. Ông ấy cũng nói rằng để môn phái phát triển bền vững, cần phải thành lập môn phái vào một thời điểm và địa điểm cụ thể.”
“Kết quả là tổ sư ấy lại không biết đường; mặc dù đã đặt rất nhiều dấu hiệu, nhưng vẫn lạc đường. Ông ấy đành phải hỏi đường người nông dân bên đường, và chỉ nhờ vậy mới tìm được địa chỉ của môn phái, không làm chậm trễ tiến trình.”
“Để cảm ơn người nông dân đó, tổ sư đã đặt tên cho môn phái là Đạo Đức.”